Hiển thị các bài đăng có nhãn Kỹ thuật người An Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kỹ thuật người An Nam. Hiển thị tất cả bài đăng

Mô tả nghi thức xử trảm thời xưa qua sách "Kỹ thuật người An Nam"

Blog người hiếu cổ - Chém đầu là một trong số những hình thức tử hình một phạm nhân mắc trọng tội, tức là làm cho phần đầu và phần thân của phạm nhân tách rời ra, phạm nhân sẽ mất máu mà chết rất nhanh. Lịch sử của hình phạt này rất lâu đời, theo nghiên cứu của các chuyên gia lịch sử thì hình phạt chém đầu xuất hiện quãng tương đương hình phạt treo cổ. Công cụ dùng để chém đầu thường là Rìu, kiếm, đao, ngoài ra ở các nước phương Tây còn phát minh ra máy chém. Chém đầu thường được tổ chức công khai và kèm thêm nghi thức “bêu đầu thị chúng”, đây có thể nói là phương pháp răn đe con người rất hữu hiệu.
Tại Việt Nam cũng có sử dụng hình thức tử hình này từ rất lâu đời. Tuy nhiên để khảo sát một cách cụ thể trên sử sách thì rất khó, theo sở đọc hạn hẹp của chúng tôi thì chưa thấy sử sách chính thống nào ghi cụ thể về nghi thức chém đầu. Song, chúng tôi có tìm được một số hình ảnh về nghi thức chém đầu tại Việt Nam qua cuốn sách “Kĩ thuật người An nam” của Henry Orger, nhưng được bố trí một cách tản mát và không có hệ thống. Sắp xếp lại các hình ảnh tôi cũng mường tượng được đôi chút về nghi thức này, và đoán định hình ảnh vẽ lại nghi thức chém đầu vào thời Nguyễn. Xin trình bày dưới đây:
Tôi xin phân ra làm 2 giai đoạn: 
- Giai đoạn hành quyết (tính đến lúc phạm nhân bị chém)
- Giai đoạn hậu hành quyết (sau khi chém)
1) Giai đoạn hành quyết:
Giai đoạn này gồm 2 nghi thức, tôi tạm gọi là THỊ UY và HÀNH QUYẾT.

Thị uy:
Không giống như cảnh xử trảm được xây dựng ở các bộ phim cổ trang Trung Quốc, tại Việt Nam, các phạm nhân không được nói lời trăn trối, mà thay vào đó là nghi thức múa kiếm trước mắt kẻ tử tội, có thể hành động này để thị uy và tăng thêm phần sợ hãi cho người bị xử trảm.
Không chỉ khiến cho kẻ sắp bị xử trảm sợ hãi, mà những người chứng kiến cuộc hành hình cũng vì thế mà khiếp hãi vô cùng. Những đường múa gươm xé gió vun vút cộng với tiếng trống pháp trường càng khiến cho nghi thức thêm phần trang nghiêm, đồng thời cũng có thể coi là màn dạo đầu, màn khởi động của các đao phủ, để nhát kiếm được thêm phần sắc ngọt hơn.
Sắp chém múa kiếm trước mắt
Hành quyết: 
Giai đoạn này là lúc đao phủ dùng đao chém phạm nhân một nhát sắc ngọt, đầu phạm nhân lìa khỏi thân thể và chết ngay lập tức. Hình bên chúng ta quan sát thấy tên đao phủ chém xong thì lấy lưỡi liếm máu trên thanh đao. 









Chém tù
 
2) Giai đoạn hậu hành quyết: 
Sau khi đầu nạn nhân lìa khỏi cổ, đao phủ sẽ nhặt đầu của phạm nhân lên và tung đầu lên trời. Sau đó thầy pháp sẽ tiến hành nghi lễ thấm máu người chết, sau cùng là nghi thức bêu đầu thị chúng. (xem hình)

Tung đầu
Thầy pháp lấy giấy thấm máu

Bêu đầu trên ngọn giáo

Lấy kim khâu cổ
Còn một hình ảnh rất đáng để lưu tâm, đó là việc sau khi phạm nhân bị chém xong, bêu đầu xong rồi thì người thân của phạm nhân sẽ được nhận lại xác và đầu đã bị chém về để an táng. Người ta sẽ không chôn ngay người chết mà phải dùng kim để khâu liền đầu người bị chém vào thân, để tránh mang tiếng "chết không toàn thây".
***
Ngoài mô tả nêu trên, nhà nghiên cứu Trần Quang Đức có gửi cho tôi một số chi tiết để tham khảo thêm như sau:
Trong sách "Lĩnh ngoại đại đáp" soạn thời Nam Tống ghi chép về các hình thức trảm vào thời Lý như sau:
《嶺外代答·卷二·安南國》:為盜者,斮手足指。背國逃亡音,斮手足。謀叛者,埋身露頭,旁植勁竹,挽竿系首。以利刃剷之,首歘起揭竿標矣。(Kẻ trộm cắp thì chặt ngón tay ngón chân. Kẻ phản quốc đào tẩu thì chặt tay chân.Kẻ mưu phản thì chôn mình (xuống đất) để lộ đầu, bên cạnh trồng cây tre cứng, vít cành xuống buộc vào đầu, dùng đao sắc phạt (một đường), đầu liền bay vút bêu lên cành cây.)"Đại Việt sử kí toàn thư" còn ghi một việc thế này: "Quan quân vào chùa bắt được Mạc Mậu Hợp đem đến dinh quân. Vũ quận công sai người lấy voi chở cùng với hai kỹ nữ về Kinh sư dâng tù, bêu sống 3 ngày rồi chém ở bến Bồ Đề, gửi đầu về hành tại Vạn Lại ở Thanh Hoa, đóng đinh vào hai mắt bỏ ở chợ" (Muc ngày mồng 3 tháng 12 năm Nhâm Thìn 1592). Hình phạt chặt đầu, rồi đóng đinh vào hai mắt có lẽ chuyên áp dụng cho kẻ mưu phản.
  
Như vậy chúng ta thấy  rằng nghi thức xử trảm không chỉ đơn thuần là chém một phát để giết chết phạm nhân. Chắc chắn trong lịch sử còn nhiều kiểu xử trảm khác nữa, nhưng sở học có hạn nên phần đánh giá và bổ sung xin mong chờ sự phản hồi từ các bậc trí giả để vấn đề này càng được hiểu rõ ràng hơn.

Người xưa tập viết chữ Hán như thế nào?

Blog người hiếu cổ - Sư huynh Đại Cồ Việt hỏi tôi, ngày xưa các cụ ta học chữ Hán như thế nào? Bản thân tôi chưa thực sự am tường, song trong quá trình đọc sách, tôi có lưu lại vài dòng kiến văn thô lậu thế này, tiện cung cấp lên đây để những ai quan tâm tiện tham khảo.

Ngoài một số bài thơ dạy nhớ chữ Hán kiểu “Chim chích mà đậu cành tre, Thập trên Tứ dưới Nhất đè chữ Tâm”, “Cô Lan đứng ở cửa Đông, cớ sao để tóc rối bung trên đầu”…, theo một số tư liệu như Việt kiệu thư, Sơn cư tạp thuật, Kỹ thuật của người An Nam, có thể bước đầu nhận định, trẻ con Việt Nam từ thời Trần Hồ tới thời Nguyễn, khi mới bắt đầu tập viết đều viết 25 chữ Hán cơ bản, gọi tắt là Thượng Đại Nhân.
- Việt kiệu thư của Lý Văn Phượng, người thời Minh sơ, cho biết: Năm 1406, sau khi chiếm được nước ta, Minh Thành Tổ Chu Đệ ra lệnh “binh lính vào nước ấy, ngoại trừ sách kinh và ván in của đạo Phật, đạo Lão không thiêu hủy; tất cả thư tịch, ván in cho đến những loại giấy trẻ con quê mùa tập viết như “Thượng đại nhân, Khưu ất dĩ”, một mảnh một chữ đều phải hủy hết.(Nguyên văn:兵入除釋道經板經文不毀外,一切書板文字以至俚俗童蒙所習如上大人丘乙已之類片紙隻字悉皆毀之,其境内凡有古跡中國所立碑刻則存之,但是安南所立者悉坏之,一字不存 Bản dịch trong sách Thơ văn Lý Trần có chỗ chưa xác đáng, như câu “俚俗童蒙所習如上大人丘乙已之類” được dịch là “những loại (sách ghi chép) ca lý dân gian, hay sách dạy trẻ, như loại sách có câu Thượng đại nhân, Khưu ất dĩ. Từ “Lý tục” (lý: nhà quê; tục: thô tục) có thể bị người dịch hiểu nhầm sang từ “lý ngữ”, “lý ca” (lời nói dân gian, câu hát dân gian). Bản Việt kiệu thư in trong Tứ khố toàn thư tồn mục tòng thư - Sử bộ - Q.162 - Tr.695 có ghi chép tương tự, riêng từ ‘lý tục’ chép là “lễ tục”).

- Mục Thượng đại nhân trong Sơn cư tạp thuật niên đại cuối Lê, cho biết: Trẻ con mới tập viết chữ, ắt viếtThượng đại nhân, Khưu ất dĩ (chữ Khưu nay đổi thành chữ Thánh), hóa tam thiên, thất thập sĩ, nhĩ tiểu sinh, bát cửu tử, giai tác nhân, khả tri lễ dã (Bậc đại nhân thời cổ, chỉ có ngài Khổng Khưu mà thôi, ngài giáo hóa ba nghìn đồ đệ, có bảy mươi học trò giỏi. Nay trò nhỏ các ngươi, tám chín đứa, làm tốt điều nhân, biết lễ nghĩa), thiên hạ đều như vậy, không biết bắt đầu từ khi nào. (Nguyên văn: 小兒初習字,必書[上大人,丘乙已(丘今作聖),化三千,七十士。爾小生,八九子,佳作仁(佳今作皆),可知禮也]。天下同然,不知何起)

- Kỹ thuật của người An Nam niên đại cuối Nguyễn còn lưu lại hai bức vẽ Trẻ con tập viết, đều xuất hiện các dòng chữ Thượng Đại Nhân Khưu Ất Dĩ.  

Bên cạnh đó, Sơn cư tạp thuật còn cho biết: Ở nước ta, trẻ con mới nhập học, phải viết hai câu "Thiên tích thông minh, thánh phù công dụng", không biết từ đâu. Có người bảo "bắt đầu từ Lê Văn Hưu, người Phủ Lý Đông Sơn vậy". (Nguyên văn: 我國童子入學,必書[天錫聰明,聖扶功用]兩句,不知何自。或曰始于黎文休,東山甫里人) . Ông nội tôi hồi còn sống từng kể lại rằng, hồi đi học chữ Nho, thầy bắt chép đi chép lại 8 chữ Thiên tích thông minh, thánh phù công dụng, ông và các bạn toàn đọc vui thành Thiên tích thong manh, thánh nằm chỏng gọng.

Ngoài ra, An Nam kỷ du của Phan Đỉnh Quế, quan nhà Thanh, mô tả phép viết chữ của người Việt thời Lê Trung Hưng cho biết: “Thư pháp tuân theo Tống thể. Người trong cả nước viết từng chấm từng nét đều có kiểu dáng giống nhau, xấu đẹp không thật rõ ràng. Ta từng hỏi sĩ đại phu nước ấy về nguyên do của việc này. Đại để người Trung Quốc ta học viết chữ, gộp cách thức của một chữ lại mà học. Đằng kia thì xé từng nét chia ra, khiến các phần phân tán không liền mạch, sau đó hợp lại thành một chữ. Đó cũng là một cách học vậy.(Nguyên văn: 書法遵宋體。盡國之人,點畫形勢無不同,不甚分醜好。余嘗與其士大夫國人講求其故。大都我中土人學書,合一字格式學。彼則裂一字之點畫分之,使其材質靡不通,然後合為一字。亦一法也)